Bộ Luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003
BỘ LUẬT
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 19/2003/QH11 NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 2003 VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG I
NHIỆM VỤ VÀ HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Điều 2. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự
Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.
Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế đó.
Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo tập quán quốc tế, thì vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
- Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP do Hội đồng thẩm phán ban hành ngày 02/10/2004 - 02/10/2004
- Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 8 năm 2004 - 20/08/2004
- Thông tư liên tịch số 28/2004/TTLT-BQP-TANDTC ngày 04 tháng 3 năm 2004 - 04/03/2004
- Pháp lệnh 24/2004 về Giám định tư pháp - 24/12/2003
- Chỉ thị 15/2004 về việc tổ chức triển khai thi hành Bộ luật tố tụng hinh sự 2003 - 15/12/2003
- Hiệp định về dẫn độ tư pháp số 46/2005/LPQT ngày 15 tháng 09 năm 2003 - 15/09/2003
- Nghị quyết 388 về thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra - 17/07/2003
- Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP do Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành ngày 17/04/2003 - 17/04/2003
- Nghị quyết 24/2003 về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự - 24/12/2002
- Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18 tháng 2 năm 2002 - 18/02/2002



